Xứ Tà Xùa
Tà Xùa, đúng hơn là “Tà Sùa”, theo tiếng Mông có nghĩa là “sân phơi thuốc”. Giờ đây không còn nhiều người biết đến ý nghĩa này. Tại sao người Mông lại gọi mảnh đất này là “sân phơi thuốc”? Khi nghĩ ra cái tên đó liệu họ đã biết về sự hiện diện của cây chè – loài thuốc quý mà tạo hoá đã ban tặng cho quê hương xứ sở mình hay chưa?
Cây chè ở Tà Xùa
Phân loại:
Về cơ bản, trà Tà Xùa có thể chia thành năm loại:
Trà cổ thụ: sao chảo truyền thống hoặc sao lồng, nguyên liệu chủ yếu ở Bản Bẹ, Mống Vàng. Búp trà to, nhiều lông, uống đậm vị, ngọt dịu, sâu. Hầu hết trên thị trường là trà 1 tôm 2, 3 lá, vì đây là cách hái phổ biến của bà con. Kể cả có trả công hái cao hơn, họ cũng không hái khác đi.
Trà shan tuyết 1968: sao chảo truyền thống hoặc sao lồng, nguyên liệu chủ yếu ở bản Mống Vàng; búp nhỏ hơn trà cổ thụ, thường là 1 tôm 1 lá.
Trà shan tuyết ít tuổi: sao lồng, nguyên liệu chủ yếu ở bản Mống Vàng, Chung Chinh, Tà Xùa A; búp nhỏ, ít lông, thường là 1 tôm 2 lá.
Trà bầu: sao lồng, nguyên liệu chính ở bản Chung Chinh, Tà Xùa A; trà xanh, đen, gần giống với trà Thái Nguyên, Phú Thọ.
Trà shan tuyết Háng Đồng: Từ năm 2019, do nhu cầu thị trường cao hơn, nhiều người lên mua chè và làm chè hơn, thị trường lại thích loại búp to, nhiều lông… nên một số hộ thu mua chè shan tuyết ở Háng Đồng để làm, thay vì trước đây không ai hái. Thị trường có thêm một loại chè “Tà Xùa” nữa. Chè Háng Đồng búp to hơn, màu vàng hơn, búp tươi ít chát hơn chè Tà Xùa. Loại này chủ yếu phục vụ khách du lịch.
Tùy theo nguyên liệu, cách chế biến, người chế biến…mà giá chè dao động từ vài trăm tới vài triệu một cân.
Cây chè trong đời sống người dân bản địa
Cây trà có mặt ở đây từ bao giờ chắc chẳng ai biết. Các cụ già gần trăm tuổi cũng chỉ nhớ và kể lại rằng, từ đời các cụ đã thấy cây trà to như thế rồi. Theo cách tính áng chừng của bà con, những cây trà cổ thụ đã tồn tại khoảng năm đời. Trung bình một đời người tầm sáu chục năm, thì tuổi cây trà tầm ba trăm năm. Nếu tính tuổi theo khoa học, tức là xác định bằng cách dựa vào phân tích đồng vị cacbon thì phải cắt thân cây, rồi mang đi phân tích. Cách này thì chắc không có ai làm cả.
Có một điều lạ là trước đây người Tà Xùa không uống trà. Bà con coi cây trà như các cây gỗ tạp khác để làm củi. Người Mông coi trọng cây pơ mu hơn, vì cây pơ mu là cây giữ lửa. Gỗ pơ mu có dầu nên dễ cháy, mà trước đây thì pơ mu đầy trên rừng. Người Mông làm nhà hoàn toàn bằng gỗ pơ mu, kể cả lợp mái.
Năm 2017, tại nh một bản người Mông ở Háng Đồng C. Xung quanh nhà toàn gỗ pơ mu, những cây chè cổ thụ gần đó bị chặt hết, búp rất to và nhiều lông tơ, nhưng chẳng ai buồn uống. Có chăng, thỉnh thoảng họ chặt cả một cành lớn xuống, rồi hái lấy một nắm búp, cho vào cái ấm, đặt lên bếp đun sôi, rót ra bát mời khách mỗi khi nhà có khách. Người Mông, đặc biệt là đàn ông, thường thích “hàu chớ”, uống rượu, hơn là “hàu chua gi”, uống trà.
Lịch sử phát triển cây chè
Bản Mống Vàng cũng có vài chục cây cổ thụ, cây to nhất vòng thân những ba người ôm. Theo tìm hiểu của chúng tôi, cây trà cổ thụ tại đây thuộc giống camellia sinensis var assamica, hay còn gọi là shan tuyết lá to, mọc hoang dã từ bao giờ không còn ai nhớ rõ.
Năm 1968, theo chính sách của nhà nước, người dân Tà Xùa phá bỏ cây thuốc phiện, được cấp giống cây chè để làm kinh tế. Diện tích chè vài chục héc-ta, chủ yếu ở các bản Bản Bẹ, Chung Chinh và Mống Vàng. Lúc đó giống chè chủ yếu là camellia sinensis var assamica (shan tuyết lá to), trồng bằng hạt, lấy từ Suối Giàng, Yên Bái sang.
Năm 1993, nhà nước phát động một đợt nữa để tăng diện tích trồng chè lên. Đợt này các bản Chung Chinh, Tà Xùa A, Tà Xùa C và một số hộ ở Mống Vàng được cấp giống chè trung du trồng bầu từ Phú Thọ, sau dân thường gọi là chè bầu. Theo tìm hiểu của chúng tôi, hầu hết trong số này là giống chè camellia sinensis var sinensis, giống chè lá nhỏ, mỏng. Một diện tích nhỏ cây chè giống này có búp có màu tím, ở bản Chung Chinh. Một số khác thì vẫn trồng bằng hạt giống chè shan lá to, chủ yếu ở bản Mống Vàng.
Trà cổ thụ vài trăm năm tuổi chủ yếu tập trung ở Bản Bẹ. Năm 2019, để làm dự án chè di sản, chính quyền xã có thống kê và đánh số 200 cây chè cổ thụ tại đây.
Từ đó tới nay, diện tích chè tăng lên đáng kể. Theo thống kê của UBND huyện Bắc Yên, tổng diện tích chè ở Tà Xùa lên tới 140 hecta, rải ra khắp các bản.
Phẩm chất cây chè Tà Xùa
Điều đáng nói là, cùng giống với trà shan tuyết Suối Giàng, nhưng trà Tà Xùa lại được thị trường ưa chuộng hơn. Câu chuyện cũng giống như trà Thái Nguyên, dù được lấy giống từ Phú Thọ, nhưng lại ngon hơn và giá trị cao hơn. Yếu tố quan trọng nhất là thổ nhưỡng và khí hậu. Buổi sáng, những cây trà được đón ánh nắng mặt trời, buổi chiều không phải chịu nắng gắt, độ ẩm cao quanh năm. Chính vì thế mà chất trà đặc trưng ở Tà Xùa là đậm, ít chát, ngọt sâu tạo nên cá tính riêng không giống với trà ở bất cứ nơi nào trên Thế giới.
Chè Tà Xùa và du lịch
Sau 5 năm, Tà Xùa đã thay da đổi thịt, hàng quán mọc lên nhiều, homestay nhiều hơn cả nhà dân. Máy xúc, xe tải chạy ầm ầm suốt ngày. Bụi và sương thay nhau che phủ Tà Xùa…
Hiện nay cùng với sự phát triển của giao thông và cơ sở hạ tầng, số lượng cây chè cổ thụ ngày càng giảm đi. Trước tiên là những cây ở gần đường, vì người dân chuyển nhà ra sát mặt đường để dễ buôn bán, làm ăn. Tiếp theo là những cây to, vì cách làm du lịch.
Các cụ già người Mông chia sẻ, cây trà không thích đông người qua lại cây sẽ chết. Khách du lịch tới Tà Xùa thường leo trèo lên cây, đứng chụp ảnh dưới gốc cây…, làm cho hệ sinh thái môi trường sống của cây trà bị phá vỡ. Các cây bụi xung quanh chết hết, đất dần chai cứng, dinh dưỡng cạn kiệt… Hậu quả là cây trà bị sâu bệnh, mối mọt rồi chết. Chứng kiến sự suy yếu của một vùng trà cổ thụ đặc sản quý hiếm của Việt Nam và thế giới, không khỏi xót xa.
Chúng tôi từng chia sẻ với một số bạn trẻ người Mông ở Tà Xùa, khách săn mây chỉ qua đây một lần rồi thôi, còn khách săn trà chúng tôi còn quay lại. Vì thế, cây trà nên được quan tâm đúng mức, trà cổ thụ còn thì Tà Xùa còn, và cuộc sống của người dân sẽ ngày một tốt cùng với cây chè.
Vậy mỗi người chúng ta có thể làm gì?
Thiết nghĩ với tư cách cá nhân là người uống trà, chúng ta nên trân trọng từng cọng trà, uống vừa phải, không lãng phí. Người làm trà, kinh doanh không lấy số lượng, lấy lợi ích kinh tế làm đầu. Cần khai thác vừa phải để cây trà có thời gian nghỉ ngơi, hồi phục sức sống. Với cây trà shan tuyết cổ thụ chỉ nên thu hái từ 1, 2 vụ một năm, sau mùa hè thì dừng thu hái. Nếu ra búp nào hái búp đó thì cây trà không thể sống được. Là khách tham quan, chúng ta không nên leo trèo lên cây trà, đứng gần gốc trà để chụp tấm ảnh hay quay clip, làm ảnh hưởng tới môi trường sống của cây.
Hành trình của trà Tà Xùa
Các sản phẩm trà shan tuyết cổ thụ Việt Nam khi sang Tokyo giới thiệu với các bạn trà Nhật Bản. Họ đánh giá rất cao sản phẩm trà cổ thụ Tà Xùa sao tay thủ công. Nhiều bạn trà nước ngoài muốn tới Tà Xùa để tham quan và tìm hiểu về loại trà này. Đây là một tin vui nhỏ, nhưng đầy khích lệ đối với chúng tôi – những con người với tâm huyết bảo vệ trà Việt Nam, mong muốn mang văn hoá trà Việt ra thế giới.
- Cách Vệ Sinh Máy Cà Phê Và Máy Xay Đúng Chuẩn Barista (06/06/2025)
- Top 5 Máy Xay Cà Phê Hạt Đáng Mua Nhất Năm 2025(05/06/2025)
- Máy Xay Cà Phê Bị Kẹt - Nguyên Nhân Và Cách Khắc Phục(03/06/2025)
- Có bao nhiêu loại cà phê trên thế giới? Con số khá bất ngờ(20/05/2025)
- Top 9 máy pha cà phê chuyên nghiệp cho quán cà phê năm 2025(17/05/2025)
- 20 ý tưởng tự làm quầy cà phê để đánh thức đam mê pha cà phê bên trong bạn(25/09/2020)
- Nuova Simonelli Oscar II(13/07/2020)
- Đầu Tư Kinh Doanh Cafe Hiệu Quả(18/07/2019)
- Trà An Thần(07/07/2020)
- Các Dòng Trà(30/06/2020)
- 10 Món Trà Nổi Tiếng Thế Giới(29/06/2020)
- Trà Chiều Sang Chảnh(04/06/2020)
- Trà Phổ Nhĩ(02/07/2020)
- Trà Hoa Hồng Tây Tạng(01/07/2020)
- Trà Sen(01/07/2020)
- Trà Nha Bao(30/06/2020)

-9806.png)

-5784.png)
-7473.png)
-2343.png)
